Monthly Bible
Commentaries

Tháng Năm 2020

Ánh sáng của một thụ tạo mới

Gioan 20,11-17
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà. Bà Maria Mácđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giêsu gọi bà: “Maria!” Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: “Rápbuni!” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). Đức Giêsu bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha d. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.’” (Gioan 20,11-17)

Những lời đầu tiên của câu chuyện Phục sinh đặt chúng ta trước một ngưỡng cửa. Một điều gì đó mới mẻ sắp bắt đầu. “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối...” (Gioan 20,1). Khi nghe những lời này, nhiều Kitô hữu tiên khởi hẳn đã nhớ đến những dòng đầu tiên của Thánh Kinh, khi Thiên Chúa trong bảy ngày tạo dựng trời đất, và đến khoảnh khắc của ngày thứ nhất khi Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng.”

Tuy nhiên, khi tiếp tục đọc câu chuyện Phục sinh, chúng ta thấy rằng nhân vật của những dòng đầu này là bà Maria Mađalêna. “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ và thấy tảng đá đã được lăn khỏi mộ.” Bà Maria là hình ảnh của tình yêu gắn bó với Đức Giêsu và sự can đảm. Sau khi ra đi trong đêm tối đến mộ và trở về báo cho hai môn đệ biết về tảng đá, bà lại theo họ đến đó. Khi họ rời đi, bà ở lại. Bản văn nói rằng bà đứng đó và khóc. Bị đè nặng, nhưng vẫn đứng vững.

Hai thiên thần gọi bà: “Này bà, sao bà khóc?” họ hỏi. Từ “thiên thần” có nghĩa là người được sai đi, sứ giả. Khi các thiên thần xuất hiện trong Thánh Kinh, họ hành động nhân danh Thiên Chúa. Nhưng ở đây, thay vì chỉ đơn giản loan báo điều Thiên Chúa đã làm như người ta có thể mong đợi, các thiên sứ dường như chỉ nhìn thấy bà Maria. Những lời của họ diễn tả sự dịu dàng và quan tâm.

Rồi Đức Giêsu xuất hiện. “Này bà, sao bà khóc?” Người hỏi, “Bà tìm ai?” Những lời đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan cũng tương tự: “Anh em tìm gì?” Đức Giêsu không ngừng đi tìm con người. Bà Maria trả lời Người, tưởng rằng Người là người làm vườn. Trước đó, bản văn đã nói ngôi mộ nằm trong một khu vườn. Phải chăng đây lại là một liên hệ với khởi đầu của Thánh KInh? Trong sách Sáng thế chương 2, sau khi tạo dựng Ađam, Thiên Chúa đã trao phó Vườn Êđen cho con người chăm sóc. Sau cùng, khoảnh khắc quyết định đến: Đức Giêsu gọi đích danh bà. Ngay lập tức nhận ra tiếng Người, Maria, người môn đệ, thốt lên: “Rápbuni! Lạy Thầy!”

Như một thần học gia đương đại đã nói: “Kitô giáo trước hết là một sự gặp gỡ, rồi mới là một sứ điệp.” (Rowan Williams, Tokens of Trust, Canterbury Press, tr. 92). Cốt lõi của Kitô giáo không nằm ở các ý tưởng hay ngay cả những nguyên tắc tốt đẹp, nhưng ở điều chúng ta thấy nơi câu chuyện Phục sinh này, và thật ra là trong toàn bộ Tin Mừng, đó là cách Thiên Chúa nhìn đến và đến gần chúng ta, cách Người hiện diện, tiếng nói và cử chỉ của Đức Giêsu, nói ngắn gọn là cách Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Sự chạm đến của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô chính là điều đã hoạt động, vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng, trong buổi sáng Phục sinh đầu tiên ấy, lật đổ sự chết và mang lại sự sống mới.

Những lời mà bà Maria sau đó đem về cho các môn đệ cho thấy một cách đầy bất ngờ rằng các tương quan – giữa họ với nhau, với Đức Giêsu và với Thiên Chúa – đã được biến đổi, được mở ra. “Hãy đi đến với anh em của Thầy,” Đức Kitô Phục sinh nói với bà, lần đầu tiên dùng từ này trong Tin Mừng Gioan, “và nói với họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em, Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em.” Trong ánh sáng Phục sinh, chỉ có một gia đình duy nhất trong Thiên Chúa. Thụ tạo mới không phải là một thế giới khác, nhưng chính thế giới này được biến đổi bởi sự chạm đến của Thiên Chúa, được thấm đượm tình huynh đệ. Và điều đó đã hiện diện ngay từ bây giờ, trong hình thức khởi đầu, qua những lời nói và cử chỉ nhờ đó chúng ta nhận lấy trách nhiệm đối với nhau và đối với ngôi nhà chung của chúng ta.

01
Tin Mừng Phục sinh thay đổi điều gì nơi tôi, trong cách nhìn và niềm hy vọng của tôi?
02
Bà Maria Mađalêna gợi hứng cho tôi như thế nào?

Recent meditations

Tháng Năm 2026

Mở rộng tình bạn

Công vụ Tông đồ 2,1-11

Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho. Lúc đó, tại Giêrusalem, có những người Do Thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình. Họ sửng sốt, thán phục và nói: “Những người đang nói đó không phải là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta? Chúng ta đây, có người là dân Pácthia, Mêđi, Êlam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Cáppađôkia, Pontô, và Axia, có người là dân Phyghia, Pamphylia, Ai Cập, và những vùng Libya giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Dot Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!”

Tháng Một 2026

"Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban"

Gioan 4,5-15

Đức Giêsu đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa. Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Đức Giêsu nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống!” Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Samari liền nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?” Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Đức Giêsu trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” Đức Giêsu trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Người phụ nữ nói với Đức Giêsu: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”

Tháng Mười 2025

Bố thí, cầu nguyện, ăn chay

Mátthêu 6,1-6.16-18

Đức Giêsu nói: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh. Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh." (...) "Rồi khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh."